Yahoo Web Search

  1. About 1,220,000 search results
  1. en.wikipedia.org › wiki › EthiopiaEthiopia - Wikipedia

    Ethiopia, officially the Federal Democratic Republic of Ethiopia, is a landlocked country in the Horn of Africa. It shares borders with Eritrea and Djibouti to the north, Somaliland to the northeast, Somalia to the east, Kenya to the south, South Sudan to the west and Sudan to the northwest. Ethiopia has a total area of 1,100,000 square ...

    • Addis Ababa

      Addis Ababa ([adˈdis ˈabəba] (); Amharic: አዲስ አበባ,...

    • Abiy Ahmed

      Abiy Ahmed Ali (Oromo: Abiyi Ahmed Alii; Amharic: አብይ አሕመድ...

    • Haile Selassie

      Haile Selassie I (Ge'ez: ቀዳማዊ ኀይለ ሥላሴ, romanized: Qädamawi...

  2. Ethiopia was reunified in 1855 under Tewodros II, beginning Ethiopia's modern history and his reign was followed by Yohannes IV who was killed in action in 1889. Under Menelik II Ethiopia started its transformation to well organized technological advancement and the structure that the country has now.

  3. Ethiopia was one of the few countries in Africa that escaped the Scramble for Africa. It avoided being colonized until 1935, when it was invaded by the Italians, who took over the country for a brief time. Ethiopia used to be called Abyssinia. The word "Ethiopia" is from the Greek word Αἰθιοπία (IPA: /ˌaitʰioˈpia/) meaning sun light burned face.

  4. en.wikipedia.org › wiki › AethiopiaAethiopia - Wikipedia

    • Overview
    • Etymology
    • Before Herodotus
    • In Herodotus
    • Other Greco-Roman historians
    • In literature

    Ancient Aethiopia, first appears as a geographical term in classical documents in reference to the upper Nile region, as well as certain areas south of the Sahara desert. Its earliest mention is in the works of Homer: twice in the Iliad, and three times in the Odyssey. The Greek historian Herodotus specifically uses the appellation to refer to such parts of Sub-Saharan Africa as were then known within the inhabitable world. In classical antiquity, Africa referred to what is now known as the Magh

    The Greek name Aithiopia is a compound derived of two Greek words: αἴθω, aíthō, 'I burn' + ὤψ, ṓps, 'face'. According to the Perseus Project, this designation properly translates in noun form as burnt-face and in adjectival form as red-brown. As such, it was used as a vague term for dark-skinned populations since the time of Homer. The term was applied to such peoples when within the range of observation of the ancient geographers, primarily in what was then Nubia. With the ...

    Homer is the first to mention "Aethiopians", writing that they are to be found at the east and west extremities of the world, divided by the sea into "eastern" and "western". In Book 1 of the Iliad, Thetis visits Olympus to meet Zeus, but the meeting is postponed, as Zeus and other gods are absent, visiting the land of the Aethiopians. Hesiod speaks of Memnon as the "king of the Ethiopians." In 515 BC, Scylax of Caryanda, on orders from Darius I of the Achaemenid Empire, sailed along the Indus R

    In his Histories, Herodotus presents some of the most ancient and detailed information about "Aethiopia". He relates that he personally traveled up the Nile to the border of Egypt as far as Elephantine. In his view, "Aethiopia" is all of the inhabited land found to the south of Egypt, beginning at Elephantine. He describes a capital at Meroë, adding that the only deities worshipped there were Zeus and Dionysus. He relates that in the reign of Pharaoh Psamtik I, many Egyptian soldiers ...

    The Egyptian priest Manetho listed Kushite dynasty, calling it the "Aethiopian dynasty." Moreover, when the Hebrew Bible was translated into Greek, the Hebrew appellation "Kush, Kushite" became in Greek "Aethiopia, Aethiopians", appearing as "Ethiopia, Ethiopians" in the English King James Version. Agatharchides provides a relatively detailed description of the gold mining system of Aethiopia. His text was copied almost verbatim by virtually all subsequent ancient writers on the area, including

    Several personalities in Greek and medieval literature were identified as Aethiopian, including several rulers, male and female: 1. Memnon and his brother, Emathion, King of Arabia. 2. Cepheus and Cassiopeia, parents of Andromeda, were named as king and queen of Aethiopia. 3. Homer in his description of the Trojan War mentions several other Aethiopians.

    • Overview
    • Music
    • Dance
    • Clothing
    • Cuisine
    • Sports

    The culture of Ethiopia is diverse and generally structured along ethnolinguistic lines. The country's Afro-Asiatic-speaking majority adhere to an amalgamation of traditions that were developed independently and through interaction with neighboring and far away civilizations, including other parts of Northeast Africa, the Arabian Peninsula, India, and Italy. By contrast, the nation's Nilotic communities and other ethnolinguistic minorities tend to practice customs more closely linked with South

    The music of Ethiopia is extremely diverse, with each of the country's ethnic groups being associated with unique sounds. Some forms of traditional music are strongly influenced by folk music from elsewhere in the Horn of Africa, especially Somalia. In southeastern Ethiopia, in Wollo, a Muslim musical form called manzuma developed in 1907. Sung in Amharic and Oromo most notably in Dire Dawa, Harar and Jimma where Ethiopian Muslims reside. In the Ethiopian Highlands, traditional secular music is

    There are many different types of Ethiopian dances, each unique to the diverse regions of the country. In a 1964 ethnographic study, a Hungarian sociologist visiting Ethiopia recorded one hundred and fifty variations of Ethiopian dance using videos and photos. This study postulates that Ethiopian dances can be divided into three forms: group dances, dances divided by gender, and coupled dances. In group dances, men and women gather and dance in ways that are not partnered or gender-specific. One

    In some central and northern areas, women's traditional clothes are often made from cloth called shemma. It is basically cotton cloth, about 90 cm wide, woven in long strips which are then sewn together. Sometimes shiny threads are woven into the fabric for an elegant effect. It takes about two to three weeks to make enough cloth for one dress. The bottom of the garment or shirt may be ornamented with patterns. Omotic Hamar women wearing their traditional attire Men wear pants and a knee-length

    The Ethiopian cuisine consists of various vegetable or meat side dishes and entrees, often prepared as a wat or thick stew. One or more servings of wat are placed upon a piece of injera, a large sourdough flatbread, which is 50 cm in diameter and made out of fermented teff flour. One does not eat with utensils, but instead uses injera to scoop up the entrees and side dishes. Traditional Ethiopian food does not use any pork or seafood, as most Ethiopians have historically adhered to Islam, the Et

    Track and field is Ethiopia's most successful sport, in which they have won many medals in the Olympic Games. Football is the most popular sport in Ethiopia. Despite lack of success by the national team, it is supported by a significant part of the population.

    • Lịch sử
    • Chính Trị
    • Địa Lý
    • Đối Nội
    • Đối Ngoại
    • Kinh Tế
    • Dân Số
    • Sức Khỏe
    • Giáo dục
    • Tôn Giáo

    Cổ đại

    Cuối thế kỷ I TCN, trên bờ Hồng Hải châu Phi xuất hiện vương quốc Aksum của dân tộc Sabae (tiếng Do Thái cổ là Sheba). Quốc gia do dòng họ Solomon cai quản, họ gọi mình là dòng dõi trực tiếp của thánh đế Solomon và hoàng hậu Saba (Sheba). Kitô giáo trở thành giáo hội quốc gia của vương quốc Aksum vào thế kỷ thứ IV dưới thời vua 'Ezana, khiến đây là nơi thứ 3 trên thế giới công nhận Kitô giáo là quốc giáo, sau Armenia và Gruzia. Từ thế kỷ VII, vương quốc dần dần mất đi sự hùng mạnh và ảnh hưởn...

    Vương triều Selassie

    Đầu thế kỷ XX được đánh dấu bằng sự cai trị của Hoàng đế Haile Selassie, người lên nắm quyền sau khi Iyasu V đã bị lật đổ. Ông đã tiến hành hiện đại hóa Ethiopia từ năm 1916, từ thời Zewditu nắm quyền và sau này khi đã trở thành nhà lãnh đạo trên thực tế của đế quốc Ethiopia. Sau cái chết của Zewditu, ông đã được lên ngôi Hoàng đế ngày 2 tháng 11 năm 1930. Sự độc lập của Ethiopia bị gián đoạn bởi chiến tranh Italo - Abyssinian lần thứ hai và sự xâm lược của Ý (1936-1941). Trong thời gian này,...

    Thời kì Cộng sản

    Vào những năm 1970 của thế kỉ XX, nước Ethiopia lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội sâu sắc. Ethiopia diễn ra nạn đói nhiều năm làm nhiều người bị chết. Trong khi đó, Hoa Kỳ cũng xâm nhập mạnh mẽ vào Ethiopia. Ngày 13 tháng 2 năm 1971, nhân dân thủ đô Addis Ababa xuống đường biểu tình chống lại chính phủ của Hoàng đế Haile Selassie I. Phong trào ủng hộ lan rộng ra khắp cả nước. Tháng 2 năm 1974, được sự ủng hộ của nhân dân, các lực lượng quân đội bắt giữ Hoàng đế và cả triều đình,...

    Ethiopia từng theo Xã hội chủ nghĩa và là thành viên của phe này, có tên là nước Ethiopi xã hội chủ nghĩa (đến năm 1987, sau cải cách chính trị và sự thông qua Hiến pháp mới, đổi tên nước là Cộng hoà Dân chủ nhân dân Ethiopi), có quan hệ với Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa khác. Ethiopia cũng đứng về phía Liên Xô trong thời kì Trung - Xô chia rẽ. Quốc gia này từng là quan sát viên của SEV với Lào, Triều Tiên, Nam Tư và Algérie. Sau khi Liên Xô và các quốc gia Đông Âu sụp đổ, Ethiopia cũng thay đổi hệ thống chính trị, thực hiện đa đảng về chính trị, áp dụng nền kinh tế thị trường. Chính trị hiện nay của Ethiopia diễn ra trong khuôn khổ của một nước cộng hòa nghị viện liên bang, theo đó Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu chính phủ. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp liên bang được trao cho cả hai phía chính phủ và lưỡng viện của quốc hội. Trên cơ sở Điều 78 của hiến pháp Ethiopia năm 1994, tư pháp hoàn toàn độc lập với hành pháp và lập pháp Theo Chỉ số dân chủ đượ...

    Địa hình

    Với diện tích 435.071 dặm vuông Anh (1.126.829 km2), Ethiopia là quốc gia rộng hàng 27 trên thế giới, tương đương với kích thước của Bolivia. Quốc gia này nằm giữa vĩ độ 3°B và 15°B, và kinh độ 33°Đ và 48°Đ. Ethiopia nằm ở Đông Phi, Bắc giáp Eritrea, Nam giáp Kenya, Đông giáp Djibouti và Somalia, Tây giáp Sudanvà Nam Sudan. Hơn một nửa lãnh thổ của Ethiopia là cao nguyên Ethiopia (cao trung bình 1.600 – 2.000m), bị nhiều sông và hẻm sâu xuyên cắt. Cao nguyên bị cắt ngang bởi thung lũng Lớn –...

    Khí hậu

    Khí hậu chủ yếu ở Ethiopia là nhiệt đới gió mùa, với sự thay đổi do địa hình gây ra. Hầu hết các thành phố lớn của đất nước nằm ở độ cao khoảng 2.000-2.500 m (6,562-8,202 ft) trên mực nước biển, bao gồm cả thủ đô lịch sử như Gondar và Aksum. Thủ đô hiện đại Addis Ababa nằm ở chân núi Entoto ở độ cao khoảng 2.400m với khí hậu trong lành và dễ chịu. Với nhiệt độ quanh năm tương đối ổn định, các mùa ở Addis Ababa chủ yếu được xác định bởi lượng mưa, với một mùa khô từ tháng 2, một mùa mưa tháng...

    Sau khi lên nắm quyền, Mặt trận Cách mạng Dân chủ nhân dân Ethiopia (EPRDF) chủ trương hoà giải dân tộc nhằm tạo sự ổn định, xây dựng lại đất nước và đã để cho Eritrea tuyên bố độc lập. Năm 2002, Ethiopia và Eritrea chấp thuận ký Hiệp định hòa bình tuân thủ phán quyết của Ủy ban Quốc tế về biên giới, theo đó xác định vùng đất Badme và một số vùng lãnh thổ ở khu vực biên giới giữa Ethiopia và Eritrea là thuộc chủ quyền của Eritrea, kết thúc chiến tranh kéo dài nhiều năm.Hai bên thành lập vùng đệm, do lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc kiểm soát. Nhưng đến năm 2005, tình hình lại có dấu hiệu căng thẳng trở lại vì Eritrea cho rằng Ethiopia đã không tuân thủ những cam kết trong Hiệp định. Để phản ứng lại thái độ thờ ơ của Liên Hợp quốc trước sự vi phạm Hiệp định của Ethiopia, tháng 10/2005, Chính phủ Eritrea đã ra lệnh cấm máy bay trực thăngvào không phận cũng như mọi phương tiện tuần tra của lực lượng gìn giữ hòa bình được hoạt động vào ban đêm trên lãnh thổ của mình. Hiện Liên H...

    Ethiopia thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị và đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Ethiopia tranh thủ tối đa viện trợ của các nước để cứu đói và phục hồi kinh tế. Hiện nay, Ethiopia đã được nhiều nước phương Tây, Mỹ, Trung Quốcquan tâm giúp đỡ những hầu hết mới chỉ dưới hình thức viện trợ nhân đạo. Ethiopia là nước Kitô giáo nằm giữa 2 nước Hồi giáo (Sudan, Somalia). Ethiopia lại có quan hệ khá mật thiết với Israel nên các nước Hồi giáo vừa gây sức ép, vừa tranh thủ Ethiopia. Libya muốn lôi kéo Ethiopia gia nhập Liên đoàn Ả Rập. Quan hệ Ethiopia với Sudan, Somalia khá căng thẳng và đã xảy ra xung đột. Hai bên tố cáo nhau giúp đỡ lực lượng chống đối lật đổ chính quyền. Ethiopia và Somalia có tranh chấp về vùng Ogadenvà đã nổ ra chiến tranh giữa hai nước. Với vị trí trung tâm ở vùng Sừng châu Phi, cửa ngõ của khu vực Đông phần châu Phi, Ethiopia là nơi đóng trụ sở của hơn 90 tổ chức quốc tế và khu vực như UN, U...

    Mặc dầu có nhiều tiềm năng quan trọng, nhưng Ethiopia là một trong những nước nghèo và kém phát triển. 3/4 dân số sống bằng trồng trọt cây lương thực ngô, lúa mạch, lúa miến. Cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chính. Ngành chăn nuôi (bò, lừa, cừu) tập trung trên các đồng cỏ cao nguyên và ở các vùng duyên hải. Ngành công nghiệp mỏ ít được chú trọng khai thác. Công nghiệp còn trong tình trạng phôi thai: công nghiệp dệt và nông thực phẩm. Ethiopia là một nước kinh tế nông nghiệpchậm phát triển. 1. Sản phẩm công nghiệp gồm có: Thực phẩm chế biến, thức uống, kim loại, xi măng, hàng dệt, hóa chất. 2. Sản phẩm nông nghiệp gồm có: Cà phê, ngũ cốc, lạc, khoai tây, mía, hạt có dầu, cây qat; da động vật sống, bò, cừu (Cừu Đông Phi), dê (Dê Đông Phi). Tổng sản phẩm quốc nội theo sức mua năm 2006 là 74,880,000,000 USD. Thu nhập bình quân đầu người 979 USD/người

    Dân số Ethiopia tăng từ 33,5 triệu năm 1983 lên 75,1 triệu năm 2006., trong khi dân số trong thế kỷ XIX chỉ có khoảng 9 triệu.Theo điều tra dân số và nhà cửa năm 2007, dân số Ethiopia tăng với mức trung bình hàng năm là 2,6% giữa năm 1994 và 2007, giảm từ 2,8% trong giai đoạn 1983–1994. Tốc độ tăng dân số hiện nay của quốc gia này nằm trong nhóm 10 nước dẫn đầu thế giới. Theo dự báo dân số nước này có thể tăng lên hơn 210 triệu vào năm 2060 dựa theo tỷ lệ tăng của năm 2011 là khoảng 2,5. Dân số Ethiopia bao gồm hơn 80 sắc tộc. Theo thống kê năm 2007 các nhóm sắc tộc chiếm đa số là Người Oromo 32.1%, Amara 30.1%, Tigraway 6.2%, Somali 5.9%, Guragie 4.3%, Sidama 3.5%, Welaita2.4%, các dân tộc khác 15.4%. Đa số dân Ethiopia nói tiếng Amhara, nhưng cũng có nhiều ngôn ngữ khác được sử dụng rộng rãi như tiếng Tigrinya, tiếng Orominga, tiếng Guaraginga, tiếng Somali, tiếng Ả Rập, tiếng Anh.

    Chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng còn yếu kém. Các căn bệnh như dịch tả, sốt rét, sốt vàng da, suy dinh dưỡng... khá phổ biến. Theo người đứng đầu của Chương trình phòng chống HIV/AIDS, Ethiopia chỉ có 1 bác sĩ y khoa trên 100.000 người. Tuy nhiên, báo cáo năm 2006 của Tổ chức Y tế Thế giớiđưa ra con số là khoảng 2,6 trên 100.000 người. Vấn đề sức khỏe chính của Ethiopia được cho là bệnh truyền nhiễm do vệ sinh kém và suy dinh dưỡng. Những vấn đề này càng trầm trọng thêm do tình trạng thiếu nhân lực được đào tạo và cơ sở y tế. Vấn đề chăm sóc sức khỏe là tương đối tốt hơn ở các thành phố. Tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh tương đối thấp hơn ở các thành phố so với vùng nông thôn, do tiếp cận tốt hơn với các chính sách chăm sóc sức khỏe. Tuổi thọ trung bình cao hơn ở mức 53 tuổi ở thành thị so với 48 tuổi trong các khu vực nông thôn.Mặc dù vệ sinh là một vấn đề lớn, nhưng việc sử dụng nguồn nước sạch đã được cải thiện hơn, 81% người dân ở các thành phố được dùng nước sạch so với...

    Chương trình giáo dục không bắt buộc. Giáo dục tiểu học bắt đầu từ năm 7 tuổi và trung học từ năm 13 tuổi. Khoảng 50% số trẻ em đến tuổi được đến trường. Ethiopia có một trường Đại học Tổng hợp ở thủ đô Adis Abeba và một số trường đại học khác.

    Theo cuộc điều tra dân số năm 2007, Kitô giáo chiếm 62,8%, trong đó Chính thống giáo Cổ Đông phương (Giáo hội Chính thống Ethiopia) chiếm 43,5%, Tin lành 18,6% và Công giáo Rôma (Giáo hội Công giáo Ethiopia) chiếm 0,7%. Hồi giáochiếm 33,9%, các tín ngưỡng vật linh chiếm 2,6%, tôn giáo khác và không tôn giáo chiếm 0,7%.

  1. People also search for